ÐỊNH MỆNH ÐÃ AN BÀI
Cho dù trên thực
tế chính quyền lúc này không còn là Liên hiệp kháng chiến,
và đã đi theo đường lối cộng sản rõ rệt, nhưng trên
mặt tuyên truyền, người cộng sản vẫn ngụy trang chính
sách đàn áp các thành phần đối lập bằng cách gán cho những
người không theo cộng sản là phản quốc, làm tay sai cho thực
dân đế quốc để chính quyền dễ dàng khuynh đảo nhân dân.
Chính vì thế mà họ đã đem nhóm đối lập của cha tôi cùng
các nhóm đối lập khác thuộc bên Phật giáo và Cao đài dàn
dựng lại thành một cái mà họ đặt tên cho là " Vụ Gián
điệp Bình định ". Họ tổ chức những buổi triển lãm hình
ảnh của những hoạt động mà họ gọi là "gián điệp".
Họ lại cho mở các buổi học tập trong nhân dân về những
hành động làm tay sai bán nước mà họ vẽ ra rồi gán cho
những người trong các nhóm này đã làm. Sau đó họ bắt dân
chúng làm kiến nghị lên án tội phản quốc của những người
trong nhóm.
Chính quyền đã
gài sẵn người trong các buổi học tập lên án nên khi thảo
luận thì luôn luôn có những người không ngớt khích động
lòng căm thù và khi làm kiến nghị thì cố đề ra những hình
phạt nặng nề nhất. Ða số người nông dân chất phác, mang
tấm lòng yêu nước thật thà thì làm sao có thể hiểu nổi
những uẩn khúc của con đường làm chính trị. Họ chỉ biết
hô theo mấy người cổ xướng. Trước làn sóng phẫn nộ
và căm thù đó, người có lòng, có hiểu biết cũng chỉ đành
ngậm miệng.
Sau hơn một năm
trời bắt bớ để điều tra và chuẩn bị dư luận, cuối
cùng chính quyền cũng đã cho lập một phiên tòa quân sự
đặc biệt để đem những người bị bắt ra xét xử. Phiên
tòa công khai được kéo dài trong nhiều đêm liền để nghe
ủy viên công an đóng vai công tố viên thao thao và hùng hổ
buộc tội. Khi tòa nghị án, bốn bản án tử hình được
tuyên bố, còn lại là một số án chung thân hoặc tù hữu
hạn. Bốn án tử hình gồm ba hiện diện, trong đó có cha
tôi là một, cùng với ông Nguyễn và ông Võ thuộc khối Phật
giáo và nhóm Cao đài. Một án xử khuyết tịch vì can nhân
là cụ Tạ đã vượt thoát về được thành trước khi bị
bắt. Mang án tù chung thân có mấy vị linh mục, mấy chú thân
cận với cha tôi, kể cả chú Tiến.
Ngồi ghế chánh
án lại là nguyên tổng đốc họ Phạm tại tỉnh Bình định
trước ngày Toàn quốc khởi nghĩa. Không biết vị chánh án
của cái " Phiên tòa quân sự đặc biệt " ngày hôm ấy khi
đứng lên tuyên bố hai tiếng " tử hình " đối với một
cựu đồng liêu thời cũ và cũng là đồng sự trong suốt
mấy năm kháng chiến vừa qua vì cái tội không khuất phục
cộng sản, ông ta có cảm nghĩ gì ở trong lòng, nhưng riêng
tôi bỗng cảm thấy mình đang chứng kiến quá nhiều điều
đáng để suy tư. Hình ảnh một cụ Thượng trong bộ áo dài
gấm bệ vệ bước xuống xe hơi đen bóng trước huyện đường
Phù cát ngày nào bây giờ chỉ còn là một ông già an phận
trong bộ đồ kaki bốn túi kiểu Trung cộng cho tôi thấy cuộc
đời đã thay đổi quá nhiều từ ngày đất nước chuyển
mình đi vào cách mạng, nhưng không phải theo chiều hướng
tốt đẹp hơn mà chỉ là bi đát thêm.
Ðể tỏ ra chế
độ là nhân đạo, mà có lẽ chính là để chờ xem phản
ứng của các thành phần đối lập, chính quyền cộng sản
chưa thi hành ngay các bản án tử hình mà cho các can nhân được
chờ đợi cứu xét xin khoan hồng. Khi thấy chỉ có số thân
nhân làm đơn lặn lội đi tới đi lui, còn các đoàn thể
tôn giáo không dám tỏ thái độ nào khác hơn vài bản kiến
nghị xin khoan hồng một cách dè dặt thì sự khoan hồng chỉ
là cái tiếng xoa dịu tạm thời sự đau khổ của thân nhân
người bị kết án chứ thực tế không bao giờ có.
Ðúng vào năm
Hội Thánh ban ơn toàn xá, vừa qua khỏi mấy ngày tết ta và
người công giáo bắt đầu vào mùa chay, thì một hôm có một
người công an xã đến tìm tôi và trao tận tay tôi tờ giấy
báo của Công an tỉnh cho phép đi thăm cha tôi tại Phù mỹ.
Tôi hơi ngạc nhiên vì lệ thường, muốn đi thăm can nhân,
thân nhân phải làm đơn xin phép qua nhiều chặng nhiêu khê
chứ đâu có dễ dàng như vậy. Vả lại tôi và em gái tôi
mới xin phép lên trại giam An lão thăm cha tôi cách đây hai
tuần, nay tự nhiên lại được phép đi thăm nữa, chắc là
có chuyện khác thường, nhưng tôi cũng không thể quyết đoán
là chuyện gì nên chỉ sửa soạn một mình lên đường ngay
cho đúng hẹn vì ngày giờ cho gặp cũng đã gần kề.
Trưa hôm sau vào
đến Phù mỹ tôi tìm mãi vẫn không thấy có đồn Công an
nào cả để hỏi thăm. Ðang loay hoay thì tôi thấy có mấy
người như là nông dân rủ nhau đi xem xử tử Việt gian. Tôi
có hỏi nhưng họ cũng không biết Việt gian nào sắp bị xử
tử, tuy nhiên tôi linh cảm ngay có một điều đau buồn nào
đó sắp xảy đến cho cha mình nên liền cất bước theo họ
đi về hướng An lương. Trên đường đi càng lúc càng có
đông người cùng đi về một ngả. Sau đó thì tất cả cùng
rẽ vào một ngọn đồi trọc. Tôi gặp thân nhân của ông
Nguyễn và ông Võ đang ngồi ở một góc đồi vắng khóc nức
nở. Tôi đã hiểu tất cả.
Ðộ 5 giờ chiều
thì từ trong làng bên kia đồi, một toán công an võ trang dẫn
cha tôi cùng ông Nguyễn và ông Võ đi ra, đưa đến giữa đồi,
chỗ có đóng sẵn hàng cọc tre và để sẵn ba cái hòm gỗ
tạp. Tôi và những người thân nhân kia được phép đến
gần bên người thân của mình để nói chuyện lần cuối
giữa hàng công an hờm súng vây quanh. Lần đầu tiên cha tôi
nói nhiều với tôi nhưng có lẽ cha tôi nghĩ là tôi vẫn còn
non dại lắm, không hiểu những uẩn khúc của vấn đề chính
trị, nên lời trăn trối cuối cùng mà người nhắc đi nhắc
lại với tôi là "ba không phải là Việt gian phản động và
cũng không hề phản bội Tổ quốc".
Tôi muốn nói
với cha tôi rằng tôi không đến nỗi ngây thơ hay khờ dại
để tin những lời tuyên truyền của kẻ cầm quyền nhưng
sự đau khổ đã làm cho tôi nghẹn lời. Tôi nghĩ giờ phút
này cha tôi chắc cũng đang đau khổ tột bực khi thấy mình
hoài bão không thành, sắp phải từ giã cõi đời, bỏ lại
hai đứa con còn nhỏ không mẹ, không họ hàng thân thích,
ở một nơi không phải là quê hương, vào một thời buổi
đầy nhiễu nhương và ly loạn. Tôi bật lên nức nở. Cha
tôi vẫn trầm tĩnh nhắc tôi lời hứa cố gắng.
Sau mấy phút gặp
mặt cuối cùng này, công an ra lệnh cho tất cả thân nhân
lui ra, nhường chỗ cho vị linh mục tiến vào. Ðể tỏ ra
chính quyền vẫn tôn trọng tự do tín ngưỡng mà có lẽ cũng
là một hình thức cảnh cáo khối công giáo nên vị linh mục
cai quản họ Nhà đá gần đấy được chính quyền mời đến
để ban các phép bí tích cuối cùng cho người sắp tìm về
với Chúa. Cha tôi có lẽ cũng muốn tránh cho tôi những xúc
động thái quá khi phải chứng kiến cảnh đau đớn này nên
đã bảo tôi hãy đi khuất khỏi nơi này ngay. Vâng lời người,
tôi quay bước về hướng chân đồi. Một bàn tay nào đó
chạm vào vai tôi và bảo tôi đi theo. Tôi tuân theo như cái
máy. Người đó đưa tôi về nhà và an ủi tôi rất nhiều
nhưng hình như tôi chẳng nghe gì cả. Tôi ngước nhìn lên
hai tấm hình chết lành và chết dữ treo trên vách hai bên
bàn thờ Chúa với tượng Chuộc tội đặt tại gian giữa.
Hình như ở xứ này, bất cứ gia đình công giáo nào cũng
mang sẵn cái ám ảnh của sự chết chóc.
Tôi ngồi yên
suy nghĩ mông lung cho đến khi nghe có tiếng một loạt súng
nổ từ trên đồi vọng lại, tôi như choàng tỉnh dậy lẳng
lặng một mình trở lại ngọn đồi. Người đi xem đang kéo
nhau ra về. Tôi đi ngược chiều với họ. Một vài người
nhìn tôi như có vẻ ái ngại nhưng cũng có những kẻ nhìn
tôi bằng đôi mắt không thiện cảm tí nào vì họ vừa được
nghe bản cáo trạng đầy tội ác của những người bị xử tử. Nghe họ nói với nhau toàn những chuyện ngây ngô, tôi
bỗng nhiên thấy họ đáng thương hại hơn là đáng ghét.
Tuy nhiên qua nét mặt và cử chỉ của họ, tôi cũng đồng
thời ý thức được về những khó khăn trong cuộc đời đã
bắt đầu mở ra cho tôi kể từ hôm nay.
Khi tôi trở lên
đến pháp trường thì tất cả đã giải tán, chỉ còn lại
mấy người du kích đang lấp ba cái huyệt, cũng gần với
hàng cọc tre ban chiều. Thân nhân của ông Nguyễn đã ra về,
chỉ còn hai cô chị và em của chú Võ. Cô Bảy chỉ sụt sùi
nhưng cô Út thì đang nức nở. Cũng như đối với mẹ tôi
lần trước, tôi đã không có mặt trong giờ phút tẩm liệm
của cha tôi, dù rằng không phải ý tôi muốn như vậy. Khi
huyệt đã lấp rồi, tôi đi theo cô Bảy và cô Út vào làng
để nhận các vật dụng của cha tôi còn để lại.
Ðoàn công tác
đã giao lại cho tôi cái ba lô mà thời còn Hướng đạo cha
tôi vẫn xử dụng trong mỗi lần đi cắm trại rồi lại dùng
nó làm túi hành trang cho những ngày đi ở tù. Trong ba lô vỏn
vẹn một bộ bà ba còn mới, một tấm vải dùng làm chăn
đắp, một quyển sổ ghi chép thơ và vài món linh tinh. Tôi
sực nhớ ra lúc ban chiều cha tôi đã mặc bộ bà ba đen cũ
đã bạc màu và để bộ đồ còn mới lại, và tôi đã không
cầm được nước mắt.
ĐOÀN
VĂN KHANH
No comments:
Post a Comment